Samsun Web Tasarim Polis malzemeleri Samsun ilaçlama Samsun çilingir farmasi üye ol Farmasi katalog Samsun atakum çilingir farmasi direktör Farmasi üye ol hacklink hacklink

Việt Nam 2035 – Giáo dục và nhân lực tri thức
Ngày đăng 07/04/2017, 23:20

Hy sinh giáo dục vì kinh tế ngắn hạn sẽ đẩy đất nước tụt hậu nhanh chóng mà không thể phục hồi, dù là dưới góc độ về kinh tế hoặc về nhân lực trình độ cao.

Trong năm 2016, Ngân hàng thế giới (World Bank) và Chính phủ Việt Nam đã ban hành một báo cáo Việt Nam 2035 (*), hướng tới Thịnh vượng, Sáng tạo, Công bằng và Dân chủ, trong đó nêu ra các chính sách và đường lối phát triển cho Việt Nam. 

Là người nghiên cứu về giáo dục và quốc tế hóa giáo dục, tôi quan tâm đến chiến lược phát triển Việt Nam 2035 dưới góc độ về phát triển giáo dục và qua đó, phát triển nhân lực có tri thức cao nhằm thúc đẩy khả năng hướng đến phát triển kinh tế với tiêu chí Thịnh vượng, Sáng tạo, Công bằng và Dân chủ như trên.
 
Khát vọng Việt Nam 2035. (Ảnh: Báo An ninh Thủ đô)

Xin được chia sẻ một số kinh nghiệm của Mỹ dựa trên một Báo cáo 2016 của Gallup với tiêu đề “Không phục hồi, những phân tích về việc suy giảm tính hiệu quả của Mỹ trong dài hạn” (“Báo cáo Gallup”) [1], với hy vọng có thể đưa ra một số góc nhìn mới cho những kế hoạch phát triển Việt Nam đến 2035.

I – Những cái giá phải trả cho sự lựa chọn phát triển kinh tế mà không cân bằng với giáo dục và phát triển nguồn nhân lực tri thức – Bài học từ Mỹ 

Trong nhiều thập kỷ liên tiếp sau Chiến tranh thế giới thứ 2, Mỹ luôn là đất nước được xếp hạng cao nhất với vai trò tăng trưởng kinh tế, kỹ thuật, nhân lực. 

Có vẻ như điều này là “từng” như Thomas Friedman viết trong cuốn sách nổi tiếng của mình “Từng là như vậy” [2] và nó được phân tích khoa học và thuyết phục trong báo cáo Gallup với những lý do sau đây (liên quan đến giáo dục và nguồn nhân lực):

1. Chi phí giáo dục, một trong ba vấn đề nghiêm trọng của nước Mỹ, khi cùng với sức khỏe và nhà cửa đang chiếm đến 36% chi phí của toàn dân. 

Nợ cho giáo dục của người học ở Mỹ đã lên tới 1.300 tỷ đô la Mỹ và sẽ tiếp tục tăng khi tiền học ngày càng tăng, trong khi việc làm và tiền lương không tăng tương ứng.


2. Chi phí giáo dục tăng cao nhưng nó không phản ánh được chất lượng tương ứng, khi tỷ lệ người học bỏ học vẫn chiếm hơn 50% (cho cấp cử nhân), 39% (cho cấp cao đẳng) [3] và tỷ lệ cao hơn nữa cho cấp sau đại học.  

Người có bằng đại học cũng thất nghiệp do ngày càng khó khăn trong cạnh tranh ở Mỹ và trên thế giới.  

Điều này đang đặt ra câu hỏi về việc đại học không còn là điều đảm bảo công việc, đặc biệt khi tự động hóa ngày càng gia tăng trong công nghiệp cần nhiều lao động, gồm cả những việc trong môi trường giáo dục. 

Lấy ví dụ, đa số trợ giảng ở đại học hiện tại đang lĩnh lương tối thiểu theo tháng và có hợp đồng lao động theo từng năm, số giáo sư trọn đời đang được giảm rất lớn. 

Hầu hết các giáo sư và nhân sự ở đại học rất quan ngại về hệ thống chất lượng dạy và học, bởi tác động của suy giảm mức lương, thời gian làm việc, ngân sách nghiên cứu và đó chính là những nguyên nhân dẫn đến, mặc dù chi phí giáo dục tăng cao, chất lượng giáo dục suy giảm ở tất cả các cấp.


3. Trong 30 năm qua, 40% người trung lưu (có thu nhập khá) đã bị phân hóa và chuyển xuống là người có thu nhập trung bình, với mức lương tối thiểu.  

Bất bình đẳng trong thu nhập đang là vấn nạn cho việc phát triển năng lực nhân lực cao cho Mỹ [4], do không thể chi trả tiền học cao hơn (sau phổ thông), và do lượng giáo viên thấp, không thu hút được giáo viên với chất lượng tốt, chất lượng dạy và học kém cũng làm suy giảm năng lực nhân lực lao động tốt nghiệp cấp 3.


Với chất lượng học không đáp ứng đa phần nhu cầu của thời đại công nghệ cao, tỷ lệ thất nghiệp càng cao và ảnh hưởng đến những chính sách hỗ trợ hay trợ cấp của nhà nước, chi phí cho đào tạo lại và chi phí cho tạo công ăn việc làm cho những lao động không có trình độ tương ứng.

Lấy một ví dụ về ngân sách của chính quyền Trump đang dự kiến cho giáo dục 2017-2018: dự kiến cắt 9 tỷ đô la Mỹ cho toàn bộ hệ thống giáo dục (giảm 13% so với 2016-2017).

Trong đó, chỉ trừ ngân sách hỗ trợ cho người khuyết tật và cho cựu chiến binh, tất cả các chương trình hỗ trợ của liên bang cho học sinh và giáo viên bị cắt giảm, với lý do không có tính hiệu quả (mặc dù không hề trích dẫn được bất kỳ nghiên cứu khoa học nào). 

Điều này gây phẫn nộ